QUY ĐỊNH VỀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 83/2015/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2015

 

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH VỀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Căn cứ Luật Tchức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Đầu tư ngày 26 tháng 11 năm 2014;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

Chính phủ ban hành Nghị định quy định về đầu tư ra nước ngoài.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định chi tiết về hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh; thủ tục đầu tư ra nưc ngoài và quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo hình thức quy định tại các Điểm a, b, c và đ Khoản 1 Điều 52 của Luật Đầu tư.

2. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí và hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo hình thức quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 52 của Luật Đầu tư thực hiện theo Nghị định khác của Chính phủ.

3. Trường hợp nhà đầu tư đề nghị đầu tư ra nước ngoài theo hình thức quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 52 của Luật Đầu tư mà pháp luật Việt Nam chưa có quy định thì Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trên cơ sở đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Nhà đầu tư gồm:

a) Tổ chức kinh tế thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

b) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo quy định tại Luật Hợp tác xã;

c) Tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng;

d) Hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật, cá nhân mang quốc tịch Việt Nam;

đ) Các tchức khác thực hiện đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu đthực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.

2. Tchức kinh tế ở nước ngoài là tổ chức kinh tế được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh ở nước ngoài theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động đầu tư ở quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư, trong đó nhà đầu tư Việt Nam sở hữu một phần hay toàn bộ vốn đầu tư.

3. Hồ sơ dự án đầu tư hợp lệ là hồ sơ có đủ thành phần, số lượng, được kê khai đầy đủ theo quy định của Luật Đầu tư, Nghị định này và theo mẫu quy định.

4. Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài là cổng thông tin điện tử được sử dụng để thực hiện thủ tục cấp, điều chnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài; đăng tải và cập nhật văn bản pháp luật, chính sách, quy trình, thủ tục và điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và tổ chức, cá nhân có hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài có tên miền là dautunuocngoai.gov.vn hoặc fdi.gov.vn.

5. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư ra nước ngoài là tập hợp dữ liệu thông tin về dự án đầu tư ra nước ngoài trên phạm vi toàn quốc được lưu trữ, quản lý trong Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài. Thông tin được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư ra nưc ngoài là thông tin gốc về dự án đầu tư ra nước ngoài.

6. Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài là hệ thống thông tin nghiệp vụ chuyên môn về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan xây dựng và vận hành để gửi, nhận, lưu trữ, hiển thị hoặc thực hiện các nghiệp vụ khác đối với dữ liệu nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về đầu tư ra nước ngoài.

Điều 4. Vốn đầu tư ra nước ngoài

Vốn đầu tư ra nước ngoài thể hiện dưới các hình thức sau:

1. Ngoại tệ trên tài khoản tại tổ chức tín dụng được phép hoặc mua tại tổ chức tín dụng được phép hoặc ngoại hối từ nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

2. Đồng Việt Nam phù hợp với pháp luật về quản lý ngoại hi của Việt Nam.

3. Máy móc, thiết bị; vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, hàng hóa thành phẩm, hàng hóa bán thành phẩm.

4. Giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu.

5. Các tài sản hợp pháp khác.

Điều 5. Ngôn ngữ sử dụng trong hồ sơ đầu tư ra nước ngoài

1. Hồ sơ dự án đầu tư, các văn bản, báo cáo gửi cơ quan nhà nước Việt Nam được làm bằng tiếng Việt.

2. Trường hp hồ sơ dự án đầu tư có tài liệu được làm bằng tiếng nước ngoài thì nhà đầu tư nộp bản sao hp lệ tài liệu bằng tiếng nước ngoài kèm theo bản dịch tiếng Việt.

3. Trường hợp tài liệu trong hồ sơ dự án đầu tư bng tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng Việt được sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính về đầu tư.

Điều 6. Mã số dự án đầu tư ra nước ngoài

1. Mã số dự án đầu tư quy định tại Khoản 1 Điều 60 của Luật Đầu tư là một dãy số gồm 09 chữ số, được tạo tự động bởi Hệ thống thông tin quc gia về đầu tư ra nưc ngoài và được ghi tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Mã số dự án đầu tư được hình thành theo nguyên tc 04 s đu lấy theo năm cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, 05 s tiếp theo cấp tịnh tiến từ số 00001 trở đi.

2. Mi dự án đầu tư được cấp một mã số duy nhất, không thay đi trong quá trình hoạt động của dự án và không được cấp cho dự án khác. Mã số dự án đu tư bị xóa khi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài chấm dứt hiệu lực.

3. Cơ quan quản lý nhà nước thống nhất sử dụng mã số dự án đầu tư để quản lý và trao đổi thông tin về dự án đầu tư.

4. Đi với các dự án đầu tư thực hiện theo Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài hoặc các giấy tờ có giá trị tương đương khác, mã số dự án đầu tư là số Giấy phép đầu tư, số Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài hoặc số giấy tờ tương đương khác đã cấp cho dự án đầu tư. Trường hp Giy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài hoặc giấy tờ tương đương khác được điều chỉnh, dự án đầu tư được cấp mã số mới theo quy định tại Khoản 1 Điều này.

Điều 7. Đầu tư ra nước ngoài có sử dụng vốn nhà nước

Điều kiện để quyết định đầu tư, thẩm quyền, quy trình, thủ tục quyết định đầu tư đối với các dự án đầu tư ra nước ngoài có sử dụng vốn nhà nước thực hiện theo Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và các quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 8. Địa điểm thực hiện dự án đầu tư

1. Các dự án đầu tư sau đây phải có tài liệu xác nhận địa điểm thực hiện dự án đầu tư:

a) Dự án năng lượng;

b) Dự án nuôi, trồng, đánh bắt, chế biến sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy hải sản;

c) Dự án đầu tư trong lĩnh vực khảo sát, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản;

d) Dự án đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, chế biến, chế tạo;

đ) Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản, cơ sở hạ tầng.

2. Tài liệu xác nhận địa điểm thực hiện dự án đầu tư gồm một trong các loại sau:

a) Giấy phép đầu tư hoặc văn bản có giá trị tương đương của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư, trong đó có nội dung xác định địa điểm và quy mô sử dụng đất;

b) Quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

c) Hp đồng trúng thầu, thầu khoán hoặc hợp đồng giao đất, cho thuê đất; hợp đồng hợp tác đầu tư, kinh doanh, trong đó xác định rõ địa điểm, quy mô sử dụng đất;

d) Thỏa thuận nguyên tắc về việc giao đất, cho thuê đất, thuê địa điểm kinh doanh, thỏa thuận hợp tác đầu tư, kinh doanh của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tại quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư.

Chương II

THỦ TỤC CẤP, ĐIỀU CHỈNH GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI DỰ ÁN THUỘC DIỆN PHẢI CÓ QUYẾT ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Điều 9. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với dự án thuộc diện Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài

1. Dự án đầu tư ra nước ngoài thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương của Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại Khoản 2 Điều 54 của Luật Đầu tư lập hồ sơ theo quy định tại Điều 55 của Luật Đầu tư.

2. Tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 55 của Luật Đầu tư gồm một trong các giấy tờ sau đây: Giấy phép đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận đu tư; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoặc quyết định thành lập.

3. Tài liệu xác định địa điểm thực hiện dự án đầu tư quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 55 của Luật Đầu tư được áp dụng đối với các dự án quy định tại Điều 8 của Nghị định này.

4. Văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự án đầu tư theo quy định tại Khoản 5 Điều 58 của Luật Đầu tư.

5. Đối với các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Quyết định đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 55 của Luật Đầu tư là các văn bản sau:

a) Văn bản chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu cho phép nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài, bao gồm các nội dung chủ yếu: Nhà đầu tư, mục tiêu, quy mô, hình thức, địa điểm đầu tư, tổng vn đầu tư, phương án huy động vốn, cơ cấu nguồn vốn, tiến độ thực hiện dự án, các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư cần đạt được;

b) Báo cáo thẩm định nội bộ về đề xuất dự án đầu tư ra nước ngoài, làm cơ sở cho việc chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu quy định tại Điểm a Khoản này.

6. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của tài liệu và nội dung đăng ký đầu tư để thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư, Nghị định này và theo mẫu quy định.

Điều 10. Trình tự, thủ tục Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài

1. Nhà đầu tư nộp 08 bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (trong đó có 01 bộ hồ sơ gốc) cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đồng thời đăng ký thông tin đầu tư trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài theo quy định tại Điều 18 của Nghị định này.

2. Hồ sơ được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận khi có đầy đủ đầu mục tài liệu theo quy định tại Nghị định này và đã được đăng ký trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không hp lệ hoặc có nội dung cần phải làm rõ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ để hoàn thiện hồ sơ.

4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi hồ sơ lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ quản lý ngành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính theo thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 55 của Luật Đầu tư.

5. Cơ quan được lấy ý kiến phải có ý kiến bằng văn bản về những nội dung thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công, gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều 55 của Luật Đầu tư. Quá thời hạn trên mà cơ quan được lấy ý kiến không có ý kiến bằng văn bản thì được coi là đã chấp thuận hồ sơ dự án đầu tư đối với những nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công.

6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thẩm định và lập báo cáo thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ theo nội dung và thời hạn quy định tại Khoản 4 Điều 55 của Luật Đầu tư.

7. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo thm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài theo các nội dung quy định tại Khoản 5 Điều 55 của Luật Đầu tư.

8. Đối với dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, sau khi có quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Điều 29 của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

9. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại Khoản 7 và 8 Điều này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho nhà đầu tư, đồng thời sao gửi Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ quản lý ngành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính.

10. Trường hợp Thủ tướng Chính phủ không chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản không chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản thông báo từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư.

Điều 11. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài đối với dự án thuộc diện Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài

1. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với dự án thuộc diện Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 của Luật Đầu tư.

2. Tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 55 của Luật Đầu tư gồm một trong các giấy tờ sau đây: Giấy phép đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoặc quyết định thành lập.

3. Các tài liệu quy định tại các Điểm c, d, đ, g Khoản 1 Điều 55 của Luật Đầu tư và Khoản 3 Điều 9 của Nghị định này liên quan đến các nội dung điều chỉnh.

4. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của tài liệu và nội dung đăng ký đầu tư để thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư, Nghị định này và theo mẫu quy định.

Điều 12. Trình tự, thủ tục Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương điều chỉnh dự án đầu tư ra nước ngoài

1. Nhà đầu tư nộp 08 bộ hồ sơ điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (trong đó có 01 bộ hồ sơ gốc) cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đồng thời đăng ký thông tin đầu tư trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài theo quy định tại Điều 18 của Nghị định này.

2. Hồ sơ được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận khi có đầy đủ đầu mục tài liệu theo quy định tại Nghị định này và đã được đăng ký trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Trường hp hồ sơ không hợp lệ hoặc có nội dung cần phải làm rõ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ để hoàn thiện hồ sơ.

4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi hồ sơ lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ quản lý ngành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và y ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính theo thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 55 của Luật Đầu tư.

5. Cơ quan được lấy ý kiến có ý kiến bằng văn bản về những nội dung thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công, gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều 55 của Luật Đầu tư. Quá thời hạn trên mà cơ quan được lấy ý kiến không có ý kiến bằng văn bản thì được coi là đã chấp thuận hồ sơ điều chỉnh dự án đầu tư đối với những nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công.

6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tchức thẩm định và lập báo cáo thẩm định về các nội dung điều chỉnh của dự án trình Thủ tướng Chính phủ theo thời hạn quy định tại Khoản 4 Điều 55 của Luật Đầu tư.

7. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương điều chỉnh dự án đầu tư ra nước ngoài.

8. Đối với dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, sau khi có quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư ra nước ngoài, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định đầu tư theo quy định tại Điều 29 của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

9. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các quyết định nêu tại Khoản 7 và 8 Điều này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, đồng thi sao gửi Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ quản lý ngành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính.

10. Trường hợp Thủ tướng Chính phủ không chấp thuận chủ trương điều chỉnh dự án đầu tư ra nước ngoài, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản không chấp thuận chủ trương điều chỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản thông báo từ chối điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đu tư ra nước ngoài và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư.

Điều 13. Dự án đầu tư ra nước ngoài thuộc diện Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư

Hồ sơ, trình tự, thủ tục Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài thực hiện theo Điều 56 của Luật Đầu tư và theo Nghị định khác của Chính phủ.

Chương III

THỦ TỤC CẤP, ĐIỀU CHỈNH GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI DỰ ÁN KHÔNG THUỘC DIỆN PHẢI CÓ QUYẾT ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Điều 14. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài

1. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 59 của Luật Đầu tư.

2. Tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 59 của Luật Đầu tư gồm một trong các giấy tờ sau đây: Giấy phép đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đu tư đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoặc quyết định thành lập.

3. Tài liệu xác định địa điểm thực hiện dự án đầu tư được áp dụng đối với các dự án quy định tại Điều 8 của Nghị định này.

4. Văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư tính đến thời điểm nộp hồ sơ dự án đầu tư theo quy định tại Khoản 5 Điều 58 của Luật Đầu tư.

5. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của tài liệu và nội dung đăng ký đầu tư để thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư, Nghị định này và theo mẫu quy định.

Điều 15. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài

1. Nhà đầu tư nộp 03 bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (trong đó có 01 bộ hồ sơ gốc) cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đồng thời đăng ký thông tin đầu tư trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài theo quy định tại Điều 18 của Nghị định này.

2. Hồ sơ được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận khi có đầy đủ đầu mục tài liệu theo quy định tại Nghị định này và đã được đăng ký trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ hoặc có nội dung cần phải làm rõ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ để hoàn thiện hồ sơ.

4. Trường hp dự án có vốn đăng ký chuyển ra nước ngoài bằng ngoại tệ tương đương 20 tỷ đồng trở lên thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đầu tư. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến bằng văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Quá thời hạn trên mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư không nhận được văn bản trả lời, thì được hiểu là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chấp thuận hồ sơ dự án đầu tư đối với những nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công.

5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều 59 của Luật Đầu tư; đồng thời sao gửi Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ quản lý ngành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính.

6. Trường hợp hồ sơ không đáp ứng đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản thông báo từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư.

Điều 16. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài

1. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 của Luật Đầu tư.

2. Tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý của nhà đầu tư quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 61 của Luật Đầu tư gồm một trong các giấy tờ sau đây: Giấy phép đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận đầu tư; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đi với nhà đầu tư là doanh nghiệp có vn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; hoặc Giy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoặc quyết định thành lập.

3. Tài liệu quy định tại Điểm d, đ Khoản 2 Điều 59 của Luật Đầu tư và Khoản 3 Điều 14 của Nghị định này liên quan đến các nội dung điều chỉnh.

4. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của tài liệu và nội dung đăng ký đầu tư để thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư, Nghị định này và theo mẫu quy định

Điều 17. Trình tự, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đu tư ra nước ngoài

1. Nhà đầu tư nộp 03 bộ hồ sơ đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (trong đó có 01 bộ hồ sơ gốc) cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đồng thời đăng ký thông tin đầu tư trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài theo quy định tại Điều 18 của Nghị định này.

2. Hồ sơ được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp nhận khi có đầy đủ đầu mục tài liệu theo quy định tại Nghị định này và đã được đăng ký trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ hoặc có nội dung cần phải được làm rõ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư trong thi hạn 05 ngày làm việc ktừ ngày nhận được hồ sơ để hoàn thiện hồ sơ.

4. Trường hp dự án sau khi điều chỉnh có vốn đăng ký chuyn ra nước ngoài bằng ngoi tệ tương đương 20 tỷ đồng trở lên thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đầu tư. Trong thời hạn 07 ngày làm việc ktừ ngày nhận được văn bản của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến bng văn bản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Quá thời hạn trên mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư không nhận được văn bản trả lời, thì được hiểu là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chấp thuận hồ sơ dự án đầu tư đối với những nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công.

5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều 61 của Luật Đầu tư; đồng thời sao gửi Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ quản lý ngành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi nhà đầu tư đặt trụ sở chính.

6. Trường hp hồ sơ không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản thông báo từ chối điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư.

Điều 18. Cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài

1. Nhà đầu tư kê khai trực tuyến các thông tin về dự án đầu tư tại Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài và nhận mã khai hồ sơ trực tuyến.

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kê khai hồ sơ trực tuyến theo quy định tại Khoản 1 Điều này, nhà đầu tư nộp hồ sơ cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

3. Sau khi tiếp nhận hồ sơ dự án đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư cấp tài khoản tạm thời cho nhà đầu tư để truy cập, theo dõi tình hình xử lý hồ sơ cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

4. Sau khi được cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư được cấp tài khoản truy cập Hệ thống thông tin quốc gia vđầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đthực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo quy định.

Chương IV

TRIỂN KHAI DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Điều 19. Chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài

1. Nhà đầu tư được chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư tại nước ngoài theo quy định tại Điều 64 của Luật Đầu tư.

2. Nhà đầu tư được chuyển ngoại tệ, hàng hóa, máy móc, thiết bị ra nước ngoài trước khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đđáp ứng các chi phí cho hoạt động hình thành dự án đầu tư, bao gồm:

a) Nghiên cứu thị trường và cơ hội đầu tư;

b) Khảo sát thực địa;

c) Nghiên cứu tài liệu;

d) Thu thập và mua tài liệu, thông tin có liên quan đến lựa chọn dự án đầu tư;

đ) Tổng hợp, đánh giá, thẩm định, kể cả việc lựa chọn và thuê chuyên gia tư vấn để đánh giá, thẩm định dự án đầu tư;

e) Tổ chức hội thảo, hội nghị khoa học;

g) Thành lập và hoạt động của văn phòng liên lạc ở nước ngoài liên quan đến việc hình thành dự án đầu tư;

h) Tham gia đấu thầu quốc tế, đặt cọc, ký quỹ hoặc các hình thức bảo lãnh tài chính khác, thanh toán chi phí, lệ phí theo yêu cầu của bên mời thu, quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư liên quan đến điều kiện tham gia đấu thầu, điều kiện thực hiện dự án đầu tư;

i) Tham gia mua bán, sáp nhập công ty, đặt cọc, ký quỹ hoặc các hình thức bảo lãnh tài chính khác, thanh toán chi phí, lệ phí theo yêu cu của bên bán công ty hoặc theo quy định pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư;

k) Đàm phán hợp đồng;

l) Mua hoặc thuê tài sản hỗ trợ cho việc hình thành dự án đầu tư ở nước ngoài.

3. Việc chuyển ngoại tệ, hàng hóa, máy móc, thiết bị ra nước ngoài theo quy định tại Khoản 2 Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật tương ứng liên quan tới ngoại hối, xuất khẩu, hải quan, công nghệ.

4. Hạn mức chuyển ngoại tệ theo quy định tại Khoản 2 Điều này không vượt quá 5% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài và không quá 300.000 đô la Mỹ, được tính vào tổng vốn đầu tư ra nước ngoài.

5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn chi tiết về quản lý ngoại hối đối với việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để thực hiện hoạt động quy định tại Điều này.

6. Việc chuyn vốn bằng máy móc, thiết bị và hàng hóa ra nước ngoài và từ nước ngoài về Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài phải thực hiện thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật hải quan. Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết việc chuyển máy móc, thiết bị và hàng hóa ra nước ngoài đthực hiện một số hoạt động đầu tư trước khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài quy định tại Khoản 2 Điều này.

Điều 20. Thực hiện chế độ báo cáo đầu tư ra nước ngoài

1. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư được cấp tài khoản truy cập Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài để thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo quy định.

2. Nhà đầu tư có trách nhiệm gửi báo cáo bằng văn bản về tình hình hoạt động của dự án đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Khoản 3 Điều 72 của Luật Đầu tư; đồng thời quản lý tài khoản của mình và cập nhật thông tin đầy đủ, đúng hạn và chính xác vào Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

3. Trường hợp có sự khác nhau giữa thông tin báo cáo trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài và thông tin trong báo cáo bằng văn bản, thì căn cứ theo thông tin trong văn bản.

Điều 21. Nghĩa vụ tài chính

1. Nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh liên quan đến dự án đầu tư ra nước ngoài đối với nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật về thuế.

2. Việc miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với phần vốn bằng hàng hóa, máy móc, thiết bị chuyển ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và chuyển từ nước ngoài về Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế xuất khu, thuế nhập khu.

Điều 22. Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong trường hợp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại dự án đầu tư ở nước ngoài

1. Nhà đầu tư được tuyển dụng lao động Việt Nam đi làm việc cho dự án đầu tư của mình ở nước ngoài theo quy định của pháp luật lao động của Việt Nam và của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư.

2. Nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về việc đưa lao động Việt Nam làm việc cho dự án đầu tư tại nước ngoài; đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động Việt Nam ở nước ngoài; chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề phát sinh trong việc đưa lao động Việt Nam làm việc cho dự án đầu tư tại nước ngoài và quy định khác của pháp luậtcó liên quan.

Điều 23. Cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài

1. Trường hp Giấy chứng nhận đăng ký đu tư ra nước ngoài bị mất, cháy, rách, nát hoặc bị hỏng dưới hình thức khác, nhà đu tư gửi văn bản đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài tới cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài để được cấp lại.

2. Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài xem xét cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của nhà đầu tư.

Điều 24. Thanh lý dự án đầu tư ra nước ngoài

1. Ngay sau khi kết thúc dự án đầu tư, nhà đầu tư phải thanh lý dự án đầu tư theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư.

2. Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặc văn bản có giá trị pháp lý tương đương theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư liên quan đến kết thúc việc thanh lý dự án đầu tư, nhà đầu tư phải chuyn về nước toàn bộ các khoản thu còn lại từ việc thanh lý dự án đầu tư.

3. Trường hợp có nhu cầu kéo dài thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều này, chậm nhất trước ngày hết hạn nhà đầu tư phải có văn bản đề nghị và nêu rõ lý do gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, quyết định. Việc gia hạn được thực hiện không quá một lần và không quá 06 tháng. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của nhà đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản trả lời nhà đầu tư về việc gia hạn thời hạn chuyển về nước toàn bộ các khoản thu còn lại từ việc thanh lý dự án đầu tư.

4. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hoàn tất việc thanh lý dự án đầu tư tại nước ngoài và chuyển về nước toàn bộ các khoản thu còn lại từ việc thanh lý dự án đầu tư (nếu có), nhà đầu tư làm thủ tục chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Điều 25 của Nghị định này.

Điều 25. Chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài

1. Nhà đầu tư thực hiện thủ tục chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài đối với các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 62 của Luật Đầu tư.

2. Hết thời hạn hoạt động của dự án đầu tư quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 62 của Luật Đầu tưlà trường hp hết thời hạn hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư mà nhà đầu tư không làm thủ tục gia hạn hoặc không được gia hạn hoạt động đầu tư.

3. Nhà đầu tư nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài với các nội dung sau:

a) Văn bản đề nghị chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo mẫu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

b) Bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài;

c) Quyết định chấm dứt dự án đầu tư tại nước ngoài theo thẩm quyền quy định tại Điều 57 của Luật Đầu tư (bản gốc hoặc bản sao hợp lệ);

d) Tài liệu chứng minh nhà đầu tư đã hoàn thành việc thanh lý dự án theo quy định tại Điều 24 của Nghị định này (bản sao hp lệ).

4. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của tài liệu và nội dung đăng ký đầu tư để thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư, Nghị định này và theo mẫu quy định.

5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ hoặc có nội dung cần phải được làm rõ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ để hoàn thiện hồ sơ.

6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ra quyết định chấm dứt hiệu lực và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài gửi nhà đầu tư, đồng thời sao gửi Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ quản lý ngành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi nhà đầu tư đặt trụ s chính.

7. Đối với trường hợp chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 62 của Luật Đầu tư, trước khi thực hiện việc chấm dứt dự án và chuyển toàn bộ vốn đầu tư ở nước ngoài cho nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư phải thông báo vi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

8. Đối với các trường hợp chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài quy định tại Điểm d, e Khoản 1 Điều 62 của Luật Đầu tư mà nhà đầu tư không đề nghị chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư, căn cứ Luật Đầu tư và Nghị định này, quyết định việc chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nưc ngoài gửi nhà đầu tư và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan.

Trường hợp nhà đầu tư muốn tiếp tục thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài thì phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định này.

9. Đối với các trường hợp chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 62 của Luật Đầu tư, nhà đầu tư thanh lý dự án và làm thủ tục chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Điều 26. Hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trong trường hợp giả mạo hồ sơ

1. Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài không có giá trị pháp lý trong trường hợp nhà đầu tư giả mạo hồ sơ, tài liệu đề nghị cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

2. Khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về việc giả mạo hồ sơ, tài liệu đề nghị cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thông báo hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trong trường hp cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài lần đầu hoặc hủy bỏ những thay đổi trong nội dung Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài được thực hiện trên cơ sở các thông tin giả mạo và khôi phục lại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nưc ngoài đã được cấp theo hồ sơ hợp lệ gần nhất.

Chương V

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Điều 27. Trách nhiệm quản lý nhà nước

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đầu tư ra nước ngoài trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đầu tư ra nước ngoài.

3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực được phân công.

Điều 28. Trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

1. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương xây dựng định hướng đầu tư ra nước ngoài theo từng thời kỳ; ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư ra nước ngoài.

2. Chủ trì thẩm định dự án đầu tư ra nước ngoài đối với dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài; thực hiện việc cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

3. Phối hợp với các cơ quan nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đ trao đi thông tin, hỗ trợ các nhà đầu tư theo thẩm quyền và giải quyết những vướng mc trong việc thực hiện các quy định của pháp luật vđầu tư ra nước ngoài.

4. Kiểm tra, thanh tra, giám sát theo thẩm quyền việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư ra nước ngoài; giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

5. Đầu mối quản lý nhà nước về xúc tiến đầu tư ra nước ngoài và thực hiện một số chương trình xúc tiến đầu tư ra nước ngoài mang tính nhà nước.

6. Chủ trì tổ chức, xây dựng, hướng dẫn, vận hành, duy trì và cập nhật Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

7. Định kỳ hàng năm, làm việc với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để xử lý kịp thời các kiến nghị của nhà đầu tư, ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất các cơ chế, chính sách và giải pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

8. Thực hiện chế độ báo cáo tình hình đầu tư ra nước ngoài trong phạm vi cả nước theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư.

Điều 29. Trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan khác có liên quan trong việc xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định của pháp luật, các cơ chế, chính sách về tín dụng, quản lý ngoại hối, kiểm soát các hành vi rửa tiền liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

2. Tham gia ý kiến về các vấn đề liên quan đến nguồn vốn và quản lý ngoại hối của các dự án đầu tư khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ hoặc đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị có ý kiến đối với các dự án đầu tư thuộc diện cần có quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ và trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị có ý kiến đối với dự án thuộc diện đăng ký cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

3. Kiểm tra, thanh tra, giám sát theo thẩm quyền đối với hoạt động chuyển ngoại tệ từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài về Việt Nam liên quan đến các dự án đầu tư ra nước ngoài.

4. Giám sát các ngân hàng thương mại trong việc cho nhà đầu tư vay để thực hiện các hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo quy định pháp luật về quản lý ngoại hối.

5. Hướng dẫn, quản lý việc chuyển vốn bằng ngoại tệ ra nước ngoài đchuẩn bị dự án đầu tư trước khi đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Khoản 5 Điều 19 của Nghị định này.

6. Thực hiện chế độ báo cáo về tình hình chuyển ngoại tệ từ Việt Nam ra nước ngoài (trước và sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài) và tình hình chuyển ngoại tệ từ nước ngoài về Việt Nam liên quan đến các dự án đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 30. Trách nhiệm của Bộ Tài chính

1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định của pháp luật, các cơ chế, chính sách về tài chính liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

2. Tham gia ý kiến về các vấn đề thuộc lĩnh vực tài chính, thuế, hải quan, đầu tư có sử dụng vốn nhà nước liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ hoặc đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị có ý kiến đối với các dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ.

3. Kiểm tra, thanh tra, giám sát theo thẩm quyền việc thực hiện nghĩa vụ về tài chính của các nhà đầu tư đối với nhà nước Việt Nam; đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài.

4. Theo dõi, giám sát và tổng hợp việc sử dụng nguồn vốn đu tư của nhà nước để đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.

5. Thực hiện chế độ báo cáo về tình hình thực hiện nghĩa vụ về tài chính của các nhà đầu tư đối với nhà nước Việt Nam; đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài và tng hợp việc sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước để đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 31. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao

1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định của pháp luật, các cơ chế hỗ trợ của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư Việt Nam tại quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư.

2. Chỉ đạo cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo dõi và hỗ trợ hoạt động đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam tại quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư; htrợ Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xác minh thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam trên địa bàn quản lý khi có yêu cầu.

3. Thực hiện chế độ báo cáo về tình hình hỗ trợ của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đối với hoạt động đầu tư của Việt Nam tại quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 32. Trách nhiệm của Bộ Công Thương

1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định của pháp luật, các cơ chế, chính sách về thương mại, công nghiệp và năng lượng liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

2. Kiểm tra, thanh tra, giám sát theo thẩm quyền đối với hoạt động thương mại, công nghiệp và năng lượng liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

3. Thực hiện chế độ báo cáo về tình hình đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp và năng lượng theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 33. Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

1. Chủ trì, phối hp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định của pháp luật, các cơ chế, chính sách về nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

2. Kiểm tra, thanh tra, giám sát theo thẩm quyền đối với hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

3. Thực hiện chế độ báo cáo về tình hình hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 34. Trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thm quyền ban hành các quy định, của pháp luật, các cơ chế, chính sách về quản lý, sử dụng lao động Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

2. Kiểm tra, thanh tra, giám sát theo thẩm quyền đối với việc đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc tại các dự án đầu tư ở nước ngoài.

3. Thực hiện chế độ báo cáo về tình hình đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc tại các dự án đầu tư ở nước ngoài theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 35. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

1. Phi hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng các quy định của pháp luật, chính sách, quy hoạch liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

2. Tham gia ý kiến về các vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ hoặc đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị có ý kiến đối với các dự án đầu tư thuộc diện cần có quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ.

3. Kiểm tra, thanh tra, giám sát theo thẩm quyền đối với các vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được phân công liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

4. Quản lý và giám sát việc sử dụng nguồn vốn nhà nước đđầu tư ra nước ngoài đối với các doanh nghiệp nhà nước, phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý hoặc do mình làm đại diện chủ sở hữu.

5. Thực hiện chế độ báo cáo liên quan đến đầu tư ra nước ngoài thuộc phạm vi quản lý của mình theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia v đu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 36. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

1. Theo dõi và quản lý các nhà đầu tư đặt trụ sở hoặc cư trú trên địa bàn có hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật liên quan.

2. Tham gia ý kiến về các nội dung thuộc thẩm quyền quản lý liên quan đến dự án đầu tư của các nhà đầu tư có trụ sở chính đặt tại địa bàn khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ hoặc đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị có ý kiến đối với các dự án đầu tư thuộc diện cần có quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ.

3. Phối hợp với các Bộ, ngành hướng dẫn các quy định của pháp luật về đầu tư ra nước ngoài; kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư ra nước ngoài; giải quyết những vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư ra nước ngoài.

4. Quản lý và giám sát việc sử dụng nguồn vốn nhà nước để đầu tư ra nước ngoài đi với các doanh nghiệp nhà nước, phn vn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý hoặc do mình làm đại diện chủ sở hữu.

5. Thực hiện chế độ báo cáo liên quan đến đầu tư ra nước ngoài thuộc phạm vi quản lý ca mình theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 37. Trách nhiệm của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

1. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm làm đu mi phối hp với các cơ quan của Việt Nam ở nước ngoài theo dõi và hỗ trợ các nhà đầu tư trong việc chấp hành các quy định pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư ở nước ngoài; thông qua đường ngoại giao, đề xuất và kiến nghị chính quyền nước sở tại hỗ trợ, tạo điều kiện và tháo gỡ khó khăn cho các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án đầu tư ở nước ngoài phù hợp với các quy định tại Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; hỗ trợ Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xác minh thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam trên địa bàn quản lý khi có yêu cầu.

2. Thực hiện chế độ báo cáo về tình hình hỗ trợ của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đối với hoạt động đầu tư của Việt Nam tại địa bàn mình quản lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 72 của Luật Đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư bng văn bản và thông qua Hệ thng thông tin quốc gia vđầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 38. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá

1. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá dự án đầu tư ra nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra, giám sát và đánh giá đầu tư.

2. Nhà đầu tư chịu trách nhiệm cung cấp các văn bản, tài liệu, thông tin liên quan đến nội dung kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt động đầu tư ra nước ngoài cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Điều 39. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp

1. Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Nghị định này thì tùy theo tính cht, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Nhà đầu tư không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định thì tùy vào mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm theo các hình thức sau đây:

a) Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài có văn bản nhắc nhở nếu vi phạm lần đầu;

b) Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư;

c) Chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài hoặc Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài hoặc văn bản cho phép đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 62 của Luật Đầu tư;

d) Công khai các vi phạm trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; Cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các phương tiện thông tin đại chúng khác.

3. Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài không giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các nhà đầu tư và giữa các nhà đầu tư với các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình đăng ký đầu tư ra nước ngoài và hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước ngoài.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 40. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

2. Các hoạt động đầu tư đã được cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài hoặc có văn bản cho phép đầu tư ra nước ngoài trước ngày Nghị định này có hiệu lực được tiếp tục hoạt động và thực hiện theo quy định của Nghị định này.

3. Đối với các dự án đầu tư đang hoạt động theo Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài, trong đó có quy định thời hạn hoạt động của dự án, khi hết hạn hoạt động của dự án, nếu tiếp tục hoạt động đầu tư tại nước ngoài thì nhà đầu tư thực hiện đăng ký cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định này.

4. Hồ sơ đầu tư ra nước ngoài nộp trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 và trước thời điểm Nghị địnhnày có hiệu lực thì thực hiện thủ tục đầu tư như sau:

a) Đối với hồ sơ dự án đã tiếp nhận mà theo quy định của Luật Đầu tư 2005 phải giải quyết trong thời hạn trước ngày 01 tháng 7 năm 2015, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Luật Đầu tư. Trong quá trình thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài không yêu cầu nhà đầu tư phải bổ sung hồ sơ, giấy tờ theo quy định của Luật Đầu tư;

b) Đối với hồ sơ dự án đã tiếp nhận mà theo quy định của Luật Đầu tư 2005, đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 chưa hết thời hạn phải giải quyết, cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài hướng dẫn nhà đầu tư điều chỉnh hồ sơ và thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư.

Điều 41. Điều khoản thi hành

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát trin nông thôn và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này đối với các nội dung theo chức năng, nhiệm vụ quản lý được phân công.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phtrực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị địnhnày./.

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ T
ƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng


Nơi nhận:
Ban Bí thư Trung ương Đảng;
Thủ tướng, các Phó Thủ tưng Chính phủ;
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, quan thuộc Chính phủ;
HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
Văn phòng Tổng Bí thư;
Văn phòng Chủ tịch nước;
Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
Văn phòng Quốc hội;
Tòa án nhân dân tối cao;
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
Kiểm toán Nhà nước;
– Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;
Ngân hàng Chính sách xã hội;
Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
VPCP: BTCN, các PCN, Tr lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
Lưu: VT, QHQT (3b).KN

@thuvienphapluat.vn

Made In Thailand Outlet January 2018 – Hanoi

Đơn vị tổ chức: Vietnam National Trade Fair And Advertising Company – VINEXAD

Địa điểm: Hanoi Friendship Cultural Palace – 91 Trần Hưng Đạo Street, Hà Nội

Thời gian: 4 Jan 2018 – 7 Jan 2018

Đăng ký trước ngày 15 Nov 2017

Click vào link để xem chi tiết => Made in Thailand Outlet Hanoi 2018

Economic Seminar Bangkok 2017

Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan phối hợp với Uỷ ban Đầu tư Thái Lan (BOI) tổ chức Hội thảo kinh tế và kết nối doanh nghiệp với chủ đề:

“Khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam: Tiềm năng và cơ hội cho các nhà đầu tư Thái Lan”

Vào ngày 06/10/2017 tại khách sạn Centara Grand & Bangkok Convention Centre at Central World, Bangkok, Thailand

Click vào đây để xem chi tiết => Economic Seminar 2017

Trade Office Embassy of the Socialist Republic of Vietnam

Hợp đồng thương mại dịch vụ và vai trò của nó đối với doanh nghiệp

Hợp đồng thương mại dịch vụ và vai trò của nó đối với doanh nghiệp

                                                                                                                                                                                 ThS Hà Công Anh Bảo

Tóm tắt: Bài viết đưa ra một khái niệm mới về hợp đồng thương mại dịch vụ trên cơ sở phân tích những đặc điểm của loại hợp đồng này để so sánh với cách gọi khác là hợp đồng cung ứng dịch vụ trong Luật Thương mại 2005. Từ đó phân tích những vai trò và tầm trọng của loại hợp đồng này đối với doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Khi thị trường thương mại dịch vụ Việt Nam đang tiến trình mở cửa theo cam kết WTO sẽ xuất hiện nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức đối với doanh nghiệp thương mại dịch vụ Việt Nam thì hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ là cơ sở pháp lý, là công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp nước ta nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước và thâm nhập thị trường dịch vụ nước ngoài.

Từ khóa: Hợp đồng cung ứng dịch vụ, Hợp đồng thương mại dịch vụ

Cùng với tiến trình tự do hóa thương mại và sự phát triển ngày càng đa dạng của các loại hình thị trường trong nền kinh tế thị trường, dịch vụ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của hầu hết các nước phát triển. Mặc dù ở Việt Nam năm 2010 tỷ trọng ngành dịch vụ chỉ chiếm trên 37,7% GDP[1], nhưng đây là bước tiến dài của chúng ta trong 10 năm qua. Đạt được bước tiến vượt bậc này một phần lớn là nhờ kết quả việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), một sân chơi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, khi hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) cung cấp một cách tiếp cận mới về dịch vụ dựa trên khái niệm thương mại dịch vụ, đã mở rộng nội dung và phạm vi hoạt động và cơ hội trong lĩnh vực này cho các doanh nghiệp Việt Nam. Dịch vụ đã trở thành hàng hóa và việc trao đổi, mua bán dịch vụ ngày càng trở nên sôi động, phổ biến khi thị trường thương mại dịch vụ được mở cửa, tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp Việt nam với nhau cũng như giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Việt Nam với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài. Để có thể nâng cao sức cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ các doanh nghiệp đã sử dụng hợp đồng thương mại dịch vụ như một công cụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia thị trường thương mại dịch vụ.

Vấn đề đặt ra là, hợp đồng thương mại dịch vụ là gì? hợp đồng thương mại dịch vụ có đặc điểm gì khác so với các hợp đồng thương mại hàng hóa? Vì sao các doanh nghiệp lại sử dụng hợp đồng thương mại dịch vụ như một công cụ để nâng cao sức cạnh tranh của mình? Bài viết này sẽ phân tích những vấn đề trên.

  1. Khái niệm hợp đồng thương mại dịch vụ

Khái niệm về hợp đồng thương mại dịch vụ là một khái niệm mới, cho đến nay vẫn chưa có một học giả, nhà nghiên cứu nào đưa ra khái niệm này. Thông thường chúng ta đề cập đến hợp đồng thương mại nói chung hoặc đi sâu hơn nữa là hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ như trong Luật thương mại Việt Nam 2005 sử dụng. Vậy hợp đồng thương mại dịch vụ và hợp đồng cung cấp dịch vụ hay hợp đồng cung ứng dịch vụ có giống nhau không? và nên sử dụng tên gọi nào cho đúng nhất sẽ được làm sáng tỏ trong phần này. Để đưa ra được khái niệm về hợp đồng thương mại dịch vụ là gì? Tác giả sẽ đi từ những đặc tính cơ bản nhất của hợp đồng thương mại dịch vụ để làm sáng tỏ khái niệm này.

-Hợp đồng thương mại dịch vụ trước hết là hợp đồng: Hợp đồng là một khái niệm xuất hiện từ lâu và hiện tại có khá nhiều khái niệm về hợp đồng. Chẳng hạn, điều 1, Bộ luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (Uniform Commerce Code – UCC) quy định “hợp đồng là sự tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự thỏa thuận của các bên”, Luật Hợp đồng năm 1999 của Trung Quốc quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng, tự nhiên của các tổ chức”[2]. Như vậy, hiểu một cách đơn giản hợp đồng là một thỏa thuận ràng buộc về mặt pháp lý giữa hai hay nhiều bên, những người đồng ý thực hiện hoặc không thực hiện một số hoạt động trong hiện tại hoặc trong tương lai. Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo đánh giá của giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài, khái niệm hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự 2005 có tầm khái quát và tương xứng với một khái niệm chung, áp dụng cho mọi loại hợp đồng chứ không chỉ dừng lại áp dụng cho hợp đồng dân sự.[3] Từ việc phân tích khái niệm về hợp đồng theo quy định của pháp luật một số nước, có thể đưa ra định nghĩa về hợp đồng như sau: “hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, căn cứ vào quy định của pháp luật, nhằm quy định quyền và nghĩa vụ đối với nhau khi thực hiện một công việc, một hoạt động hoặc một hành vi nhất định nào đó”.

Hợp đồng thương mại dịch vụ, do đó, cũng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm thực hiện các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ. Vấn đề là ở chỗ, hoạt động thương mại – đối tượng của hợp đồng thương mại dịch vụ – có những điểm khác với hoạt động dân sự. Vì vậy, cần phải làm rõ khái niệm về hoạt động thương mại và hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ.

– Hợp đồng thương mại dịch vụ là hợp đồng thương mại: trên thế giới, các nước thường không đưa ra khái niệm về hợp đồng thương mại nói chung mà chỉ đưa ra khái niệm về thương mại,[4]từ đó dẫn đến cách hiểu về hợp đồng thương mại. Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại đưa ra khái niệm thương mại: “Thuật ngữ “thương mại” cần được giải thích theo nghĩa rộng liên quan đến tất cả các vấn đề phát sinh từ các quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng hoặc không phải là quan hệ hợp đồng. Những quan hệ có bản chất thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn bởi các giao dịch sau: giao dịch thương mại để cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại; hoa hồng; thuê mua; xây dựng công trình; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận thăm dò hoặc khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác công nghiệp hoặckinh doanh khác; vận tải hàng hoá hoặc hành khách bằng đường hàng không; đường biển, đường sắt hoặc đường bộ”. Trong khi đó thương mại theo cách hiểu thông qua các hiệp định của WTO bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến đầu tư, thương mại quyền sở hữu trí tuệ.

Pháp luật hiện hành Việt Nam hiện nay không đưa ra khái niệm hợp đồng thương mại cũng như khái niệm thương mại” nói chung mà thông qua khái niệm hoạt động thương mại trong Luật Thương mại năm 2005 để làm rõ đặc điểm của khái niệm thương mại. Điều 3.1 của Luật Thương mại năm 2005 quy định: “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi…”. Từ đây, có thể hiểu hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên để thực hiện các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi. Cũng theo tinh thần của Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác[5], nghĩa là, bất cứ hoạt động nào nhằm mục đích sinh lợi thì đó là hoạt động thương mại. Pháp luật Việt Nam thì nhấn mạnh khía cạnh sinh lợi để nói lên tính chất của hoạt động thương mại, sinh lợi không chỉ hiểu đơn thuần là lợi nhuận thông qua các con số có thể nhìn thấy ngay lập tức, mà sinh lợi còn bao gồm cả lợi ích kinh tế và tăng trưởng, phát triển của các doanh nghiệp, cá nhân tham gia hoạt động thương mại. Mặc dù cách qui định ở mỗi văn bản pháp lý khác về thương mại, nhưng bản chất của thương mại được thể hiện ở mục đích cuối cùng là sinh lợi.

-Hợp đồng thương mại dịch vụ là hợp đồng mua bán dịch vụ:Nếu như đối tượng mua bán trong thương mại hàng hóa là hàng hóa – các sản phẩm hữu hình thì trong thương mại dịch vụ, đối tượng mua bán lại là dịch vụ – các sản phẩm vô hình, “là những thứ mà khi đem bán không thể rơi vào chân bạn”.[6] Một điều lưu ý rằng các dịch vụ cũng như hàng hóa ở đây phải được pháp luật cho phép tiến hành mua bán, cung cấp, trao đổi.

Hợp đồng thương mại dịch vụ còn được gọi là hợp đồng mua bán dịch vụ, hợp đồng cung cấp dịch vụ. Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không gọi hợp đồng này là hợp đồng mua bán dịch vụ mà gọi là hợp đồng cung ứng dịch vụ, để giải thích sử dụng từ cung ứng ở đây thay vì từ cung cấp hoặc mua bán dịch vụ thì xuất phát từ lịch sử của Việt Nam, khi các ngành dịch vụ trong thời kỳ bao cấp đều do Nhà nước quản lý và cung ứng cho người dân, do đó Luật vẫn sử dụng từ cung ứng dịch vụ ở đây. Tuy nhiên, với cách hiểu về cung ứng dịch vụ như điều 3 khoản 9 của Luật Thương mại năm 2005 thì có thể thấy hợp đồng cung ứng dịch vụ là sự thỏa thuận, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho bên khác và nhận thanh toán. Bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Khái niệm này nhìn nhận cung ứng dịch vụ dưới góc độ là một hoạt động thương mại. Theo đó, hoạt động cung ứng dịch vụ mang đầy đủ các đặc điểm của một hoạt động thương mại: có ít nhất hai bên tham gia và nhằm mục đích sinh lợi. Tuy nhiên, từ khái niệm nêu trên, có thể thấy luật quy định rất rõ rằng bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) phải trả tiền dịch vụ. Mà trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận với bên cung cấp dịch vụ cũng có nghĩa là mua và bán dịch vụ hay rộng hơn và bao quát hơn đó là thương mại dịch vụ. Vì vậy, có thể nói, hợp đồng cung ứng dịch vụ là hợp đồng mua bán dịch vụ. Hợp đồng này cũng mang tính thương mại.

Từ cách hiểu trên có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng thương mại dịch vụ như sau: Hợp đồng thương mại dịch vụ là sự thỏa thuận hợp pháp giữa bên cung cấp dịch vụ và bên thuê dịch vụ nhằm xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong việc mua bán, cung cấp, trao đổi dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi.

2.Đặc điểm của hợp đồng thương mại dịch vụ

Là hợp đồng thương mại, hợp đồng thương mại dịch vụ mang tất cả đặc điểm của hợp đồng thương mại nói chung. Đó là đặc điểm về mục đích sinh lợi; đặc điểm về chủ thể là các thương nhân, các chủ thể kinh doanh – thương mại. Bên cạnh đó, hợp đồng thương mại dịch vụ còn có một số đặc điểm riêng của nó. Đó là:

Thứ nhất, đặc điểm cơ bản nhất của hợp đồng thương mại dịch vụ là về đối tượng của hợp đồng. Như ở trên đã phân tích, đối tượng của hợp đồng cung ứng dịch vụ là dịch vụ – sản phẩm vô hình không tồn tại dưới dạng vật chất, do đó rất khó xác định chất lượng dịch vụ bằng những tiêu chí được lượng hóa. Bên cạnh đó, khác với hàng hóa hữu hình, dịch vụ là sản phẩm vô hình nên không thể lưu trữ được, vì vậy, trong việc mua bán hay cung ứng dịch vụ người ta không cần quan tâm đến nơi chứa dịch vụ, không quan tâm tới việc cất giữ, tồn kho hay dự trữ dịch vụ. Điều quan trọng nhất là các bên mua bán dịch vụ phải mô tả rất kỹ về dịch vụ, đặt ra những yêu cầu cụ thể mà mục tiêu các bên muốn hướng tới khi mua bán dịch vụ và điều này đòi hỏi các bên phải có sự am hiểu về tính chất của dịch vụ đó.

Thứ hai, chủ thể của hợp đồng thương mại dịch vụ thường được gọi là bên cung cấp dịch vụ và bên thuê dịch vụ hay còn gọi là khách hàng. Đây là một điểm khác biệt so với hợp đồng mua bán hàng hóa. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa thường được gọi là bên bán và bên mua. Cách gọi này thể hiện được sự chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa trong quan hệ mua bán hàng hóa giữa hai bên, khi nghĩa vụ của người bán không chỉ đơn thuần là giao hàng mà còn gắn liền với nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa đó cho người mua. Còn cách gọi các chủ thể của hợp đồng cung ứng dịch vụ phần nào cho thấy bản chất của hoạt động cung ứng dịch vụ, đó là việc một bên cung cấp dịch vụ nhưng không chuyển giao quyền sở hữu dịch vụ đó[7], bên kia sử dụng dịch vụ và có nghĩa vụ thanh toán.

Thứ ba, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại dịch vụ có thể là nghĩa vụ theo kết quả công việc hoặc theo nỗ lực và khả năng cao nhất. Theo Luật Thương mại 2005 thì nghĩa vụ theo kết quả công việc là trừ khi có thỏa thuận khác trong hợp đồng, nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải đạt được một kết quả nhất định thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với các điều khoản và mục đích của hợp đồng.[8] Còn nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất là nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết quả mong muốn thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ cung ứng dịch vụ đó với sự nỗ lực và khả năng cao nhất.[9]

Thứ tư, hợp đồng cung cấp dịch vụ có thể chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc tế về thương mại dịch vụ, luật quốc gia, tập quán thương mại quốc tế và thậm chí cả án lệ. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh thêm rằng, đối với hoạt động cung cấp dịch vụ, ngoài các nguồn luật nói trên thì hợp đồng mẫu được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là các hợp đồng cung ứng dịch vụ vận chuyển hoặc các qui tắc của các tổ chức cung cấp dịch vụ cũng là một trong những cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên.

3.Phân loại hợp đồng thương mại dịch vụ

Có nhiều cách phân loại hợp đồng thương mại dịch vụ dựa trên tiêu chí khác nhau để phân loại:

– Căn cứ vào tính chất quốc tế của hợp đồng có thể chia hợp đồng thương mại dịch vụ quốc tế và hợp đồng thương mại dịch vụ nội địa. Theo WTO và Luật Thương mại Việt Nam 2005 thì tính chất quốc tế của hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ dựa vào sự di chuyển của bên cung cấp dịch vụ và bên nhận dịch vụ hoặc sự di chuyển của dịch vụ được cung cấp.

– Căn cứ vào phân ngành của WTO thì có thể chia thành 12 nhóm hợp đồng thương mại dịch vụ như sau: Hợp đồng thương mại dịch vụ kinh doanh; Hợp đồng thương mại dịch vụ truyền thông; Hợp đồng thương mại dịch vụ dịch vụ xây dựng và kỹ sư công trình; Hợp đồng thương mại dịch vụ phân phối; Hợp đồng thương mại dịch vụ giáo dục; Hợp đồng thương mại các dịch vụ môi trường; Hợp đồng thương mại các dịch vụ tài chính; Hợp đồng thương mại dịch vụ xã hội và liên quan đến sức khỏe; Hợp đồng thương mại dịch vụ du lịch và lữ hành; Hợp đồng thương mại các dịch vụ văn hoá và giải trí; Hợp đồng thương mại các dịch vụ vận tải; Hợp đồng thương mại dịch vụ khác.

– Căn cứ vào mục tiêu của dịch vụ, thì có thể chia hợp đồng thương mại dịch vụ được chia làm 4 nhóm như sau: nhóm 1: Hợp đồng thương mại dịch vụ phân phối: vận chuyển, lưu kho, bán buôn, bán lẻ, quảng cáo, môi giới…; nhóm 2: Hợp đồng thương mại dịch vụ sản xuất: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các dịch vụ về kỹ sư và kiến trúc công trình, dịch vụ kế toán kiểm toán, dịch vụ pháp lý… nhóm 3: Hợp đồng thương mại dịch vụ xã hội: dịch vụ sức khỏe, y tế, giáo dục, dịch vụ vệ sinh, dịch vụ bưu điện, viễn thông, các dịch vụ nghe nhìn và các dịch vụ xã hội khác… Nhóm 4: Hợp đồng thương mại dịch vụ cá nhân: dịch vụ sửa chữa, dịch vụ khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ giải trí, dịch vụ văn hoá, du lịch…

– Căn cứ vào dịch vụ quy định trong Luật Thương mại 2005 thì có những loại hợp đồng thương mại dịch vụ sau: Hợp đồng dịch vụ khuyến mại; Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại; Hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ; Hợp đồng đại diện cho thương nhân; Hợp đồng ủy thác; Hợp đồng đại lý; Hợp đồng gia công; Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hóa; Hợp đồng dịch vụ quá cảnh; Hợp đồng nhượng quyền thương mại.

– Căn cứ vào Bộ luật dân sự Việt Nam 2005, mặc dù đây là các hợp đồng dân sự, tuy nhiên nếu mục đích của hợp đồng gắn với mục đích là sinh lợi thì các hợp đồng này sẽ là hợp đồng thương mại dịch vụ như đã phân tích ở phần trên, do đó chúng ta có thể có những loại hợp đồng thương mại dịch vụ sau: Hợp đồng bảo hiểm; Hợp đồng vận chuyển gồm vận chuyển hành khách và vận chuyển tài sản; Hợp đồng gia công; Hợp đồng gửi giữ tài sản; Hợp đồng ủy quyền; Hợp đồng dịch vụ.

– Căn cứ vào nghĩa vụ của dịch vụ thì chia thành hợp đồng thương mại dịch vụ theo kết quả công việc và hợp đồng thương mại dịch vụ theo nỗ lực khả năng cao nhất như đã phân tích ở phần đặc điểm hợp đồng thương mại dịch vụ.

– Căn cứ về mặt nội dung có thể chia thành hợp đồng thương mại dịch vụ đơn giản như hợp đồng sửa chữa hàng hóa (từ hàng hóa là máy vi tính đến dịch vụ sửa chữa tàu biển v.v…), hợp đồng chăm sóc sắc đẹp, hợp đồng vận chuyển hàng hóa… và các hợp đồng dịch vụ phức tạp như hợp đồng xây dựng, hợp đồng đào tạo, hợp đồng cung cấp dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm…

4. Vai trò của hợp đồng thương mại dịch vụ đối với doanh nghiệp

– Hợp đồng thương mại dịch vụ là cơ sở pháp lý để doanh nghiệp thực hiện việc cung ứng dịch vụ thương mại cho khách hàng: Thương mại dịch vụ phát triển dẫn đến nhu cầu giao lưu trao đổi dịch vụ là cơ hội để cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phát triển, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ của mình. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sẽ không cung cấp dịch vụ cho khách hàng của mình nếu không dựa trên một cam kết cụ thể nào, và hợp đồng thương mại dịch vụ chính là công cụ, là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp này thực hiện việc cung cấp dịch vụ này. Thông qua hợp đồng thương mại dịch vụ, các doanh nghiệp bước vào một thỏa thuận với những đối tác của mình thông qua niềm tin mà chúng ta gọi là luật để đảm bảo rằng những thỏa thuận cung cấp dịch vụ đó sẽ được thực hiện. Hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ bao gồm cả một quá trình đàm phán liên quan đến rất nhiều điều khoản mà các bên phải tình tới. Quá trình đàm phán có thể mất nhiều ngày, nhiều tuần hoặc nhiều tháng phụ thuộc vào nội dung và sự hợp tác của các bên. Hợp đồng thương mại dịch vụ còn là quá trình đấu tranh nhằm thay đổi hoặc thêm bớt trong thỏa thuận. Trên cơ sở những thỏa thuận đã đạt được, doanh nghiệp sẽ xác định cụ thể về sản phẩm dịch vụ mình cung cấp như thế nào, từ một sản phẩm “vô hình” như dịch vụ, thông qua hợp đồng “dịch vụ” sẽ được cụ thể hóa, mô tả hóa giúp cho các bên mường tượng được sản phẩm đó như thế nào, sự thỏa thuận đó đảm bảo sự bình đẳng thực sự của các bên, thể hiện ý chí nguyện vọng của họ và góp phần hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Hợp đồng thương mại dịch vụ là cơ sở để doanh nghiệp xác định quyền và nghĩa vụ của mình. Trong một chừng mực nào đó, hợp đồng thương mại dịch vụ cho phép các doanh nghiệp tạo ra một luật lệ riêng – thông qua những điều khoản của thỏa thuận mà các bên đã giao kết – điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác. Bên cạnh những quyền và nghĩa vụ cơ bản mà pháp luật quy định về hợp đồng cung ứng dịch vụ thì các bên sẽ quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ như cung cấp dịch vụ trong bao lâu, mức độ hài lòng được đánh giá như thế nào, tiến độ thanh toán, trách nhiệm của các bên nếu không thực hiện cam kết của mình.

Hợp đồng có giá trị pháp lý như luật (contract = law) là công thức để giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra. Nếu như sự an toàn của con người, tài sản được bảo đảm trên cơ sở những quy định trong Bộ Luật hình sự thì sự an toàn và trật tự trong thế giới kinh doanh lại phụ thuộc vào hợp đồng. Trong kinh doanh, để đi đến hợp đồng là điều khó, nhưng để hoàn thành một hợp đồng mà các bên đều hài lòng lại là điều khó hơn, thực vậy, khi ký kết hợp đồng các doanh nghiệp không thể lường trước hết mọi tình huống sẽ xảy ra trong tương lai, nguyên nhân dẫn đến việc không hoàn thành hay không thực hiện những thỏa thuận có thể là khách quan nhưng cũng có thể là chủ quan dẫn để dẫn đến tranh chấp. Vì vậy, hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ giúp cho các bên xác định được ai sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mình và các cơ quan giải quyết tranh chấp là tòa án hay trọng tài cũng không thể giải quyết một vụ tranh chấp nếu không có bằng chứng về sự thỏa thuận, cam kết của các bên và một lần nữa hợp đồng hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ trở nên vô cùng quan trọng để qua đó cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các doanh nghiệp.

– Hợp đồng thương mại dịch vụ là công cụ quan trọng để doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh của mình trong hoạt động kinh doanh:

Tài chính là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Thông qua hợp đồng, các doanh nghiệp dịch vụ sẽ xác định được chi phí, giá cả theo một thời gian nhất định trong quá trình cung cấp dịch vụ, tránh được những rủi ro tiềm ẩn trong việc tăng chi phí khi hoạt động. Từ đó giúp cho doanh nghiệp xây dựng được kế hoạch tài chính chủ động, là điều quan trọng nhất trong việc thực hiện chiến lược cạnh tranh tổng quát của doanh nghiệp. Hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ giúp doanh nghiệp loại bỏ được những đối tác có tư duy “ăn thật làm giả” khi tham gia vào thị trường dịch vụ: như đã đề cập, sự khó khăn trong vấn đề xác định “hình dáng” dịch vụ cũng chính là cơ hội để nhiều doanh nghiệp lợi dụng cung cấp những sản phẩm không như mong muốn của khách hàng. Tuy nhiên, thông qua hợp đồng các doanh nghiệp chân chính sẽ được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của mình từ đó tránh được những nguy cơ bị lường gạt. Ngoài ra, hợp đồng giúp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xây dựng uy tín và thương hiệu: dịch vụ là một lĩnh vực nhạy cảm khi được đo đếm bằng sự hài lòng của khách hàng, đối tác, có nhiều trường hợp khách hàng chỉ cần sử dụng dịch vụ một lần là nhớ mãi và có thể trở thành kênh quảng cáo cho doanh nghiệp. Việc thực hiện đúng, tốt những cam kết, thỏa thuận trong hợp đồng sẽ mang tới sự thỏa mãn, tin tưởng cho khách hàng, đối tác của doanh nghiệp và chính họ sẽ là cầu nối cho doanh nghiệp với những khách hàng, đối tác mới, từ đó giúp doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh

Những thỏa thuận trong hợp đồng sẽ là cơ sở để doanh nghiệp rằng buộc và giữ chân những khách hàng của mình và gia tăng thị trường cung cấp dịch vụ: khi kinh tế phát triển, sẽ kéo theo số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ sẽ gia tăng, đồng thời sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng lớn. Hợp đồng trước tiên sẽ giúp cho doanh nghiệp giữ chân được cách khách hàng cũ của mình, thông qua các điều khoản ràng buộc về thời gian và cách thức sử dụng dịch vụ. Sau đó nó cũng là công cụ để lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh bằng những thỏa thuận mang tính thuyết phục đối với các bên. “Thương trường là chiến trường” là câu ngạn ngữ mà các thương nhân đều nắm được và hợp đồng là “vũ khí” cho các thương nhân trong chiến trường đó. Trong hoạt động kinh tế, khi một giám đốc doanh nghiệp cầm bút ký tên vào một hợp đồng thương mại dịch vụ mà không đọc nghiên cứu kỹ, có sơ hở, sẽ có thể dẫn đến thiệt hại cực kỳ to lớn, bởi vì khi một hợp đồng đã được ký kết thì nó có hiệu lực pháp luật đối với cả hai bên. Do đó, nắm vững về hợp đồng là đã nâng cao một phần lớn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ cơ sở để doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm và ký kết các hợp đồng khác: thương mại hoạt động dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng cả trong quá trình sản xuất, nó bổ trợ cho hoạt động sản xuất. Khi sản xuất phát triển, bên cạnh việc thường xuyên tham gia vào các hợp đồng mua bán, các doanh nghiệp sản xuất luôn chú trọng tham gia vào các quan hệ để bảo đảm cung ứng những điều kiện cần thiết cho sản xuất, vận tải, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuậtvà công nghệ mới, tăng năng suất lao động, cải tiến các dây chuyền sản xuất và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt xã hội do đó nhu cầu cần các hoạt động dịch vụ bổ trợ cũng sẽ tuân theo ví dụ như dịch vụ phân phối, dịch vụ đại diện, logicstic cũng tăng lên và hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm.

– Hợp đồng thương mại dịch vụ là công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường dịch vụ nước ngoài.

Cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì hoạt động cung cấp dịch vụ không chỉ gói gọn trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà được rộng sang thị trường quốc tế. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận mở rộng thị trường cung cấp dịch vụ của mình. Thâm nhập thị trường dịch vụ nước ngoài không phải là điều dễ làm khi ở một môi trường mới khác biệt về văn hóa, pháp luật, chính trị. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải nắm bắt những cơ hội mà mình có được, đồng thời phải đảm bảo cho mình những quyền lợi, lợi ích và loại bỏ những rủi ro tiềm tàng trong kinh doanh, hợp đồng vẫn chính là câu trả lời cuối cùng cho những mục tiêu đó. Ở chiều ngược lại, Việt Nam hiện nay cũng là điểm đến của nhiều doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp này mang đến nhiều nét mới cho thị trường dịch vụ ở Việt Nam, việc giao kết những hợp đồng với các doanh nghiệp này sẽ giúp cho doanh nghiệp Việt Nam đặt nền móng cho mối quan hệ với công ty có quy mô lớn, từ đó tạo tiền đề cho sự phát triển ra nước ngoài. Trong thương trường quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam vẫn bị đánh giá là yếu thế hơn về tiềm lực tài chính, quan hệ bạn hàng do đó chúng ta thường bị rơi vào tình trạng bị động trong quá trình đàm phàn. Pháp luật của các nước hiện nay đều thừa nhận sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng dù thỏa thuận đó là không công bằng, ở một số nước có quy định loại bỏ những điều khoản mang tính không công bằng đó nhưng chỉ đối với loại hợp đồng giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng ví dụ như theo điều khoản Luật về các điều khoản không công bằng của Anh năm 1977 (Unfair Contract Term Act 1977) hoặc Luật mua bán hàng hóa và dịch vụ của Australia năm 1982 (Supply of Good and services Act 1982) không cho phép các doanh nghiệp đưa vào hợp đồng những điều khoản bất công trong hợp đồng nhằm loại bỏ trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng. Do đó, thông qua hợp đồng thương mại dịch vụ thì doanh nghiệp mới tránh rơi vào tình trạng bị chèn ép trong kinh doanh và nó sẽ là công cụ bảo vệ cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường nước ngoài.

5. Kết luận

Với những phân tích trên bài viết đã làm rõ những khái niệm, đặc điểm, phân loại về hợp đồng thương mại dịch vụ. Trong đó đã làm sáng tỏ được khái niệm về hợp đồng thương mại dịch vụ, đây được xem là một khái niệm mới để có thể thay thế với khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ hoặc là hợp đồng cung cấp dịch vụ. Ngoài ra bài viết đã làm rõ vai trò của hợp đồng thương mại dịch vụ đối với các doanh nghiệp hiện nay. Hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ càng ngày càng đóng góp cho sự phát triển nói riêng của doanh nghiệp Việt Nam và cho sự phát triển của ngành dịch vụ nói chung. Hợp đồng thương mại dịch vụ không chỉ là một công cụ pháp lý mà qua đó nhu cầu trao đổi, giao lưu của người được thực thi và bảo đảm, giúp cho luồng lưu thông hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội và nền kinh tế. Vì vậy các doanh nghiệp cần phải có những nghiên cứu cụ thể về hợp đồng thương mại dịch vụ để tránh những rủi ro pháp lý mà loại hợp đồng này có thể mang lại.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I.Tiếng Việt

  1. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005
  2. Bộ Tư Pháp, Trung tâm thông tin tư vấn pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ, GTZ.(2010), Cẩm nang pháp luật kinh doanh dành cho doanh nghiệp Nhỏ và Vừa, tập I, II, NXB Tư pháp
  3. Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (MUTRAP 3), (2011), Báo cáo chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020 và tầm nhìn tới năm 2025
  4. Đinh Thị Mai Phương .(2005), Thống nhất Luật hợp đồng ở Việt Nam, NXB Tư Pháp, tr. 67.
  5. Luật Thương mại Việt Nam 2005
  6. Nguyễn Thị Mơ. (2004), “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại”, NXB Lý luận chính trị.
  7. UBQG về hợp tác kinh tế quốc tế. (2005), Tổng quan các vấn đề về tự do hóa thương mại dịch vụ, Tập 1,2,3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
  8. VCCI, DANIDA. (2010), cẩm nang hợp đồng thương mại, NXB Lao động.

II.Tiếng Anh

  1. Dietrich, B. (1999), The prospects of international trade in services, Friedrich Ebert Foundation, Strategic Planning Department, Germany
  2. Bradford Jensen, J.(2007), Global trade in services: fear, facts, and offshoring, Peterson Institute for International Economics.
  3. Carolina, L. (2006), Trade in services and Trade in good: Differences and complementaries
  4. Chapter 12, Trade inservices of the North American free trade agreement (NAFTA).
  5. Jane P. Mallor, A. James Barnes, Thomas Bowers, Arlen W.Langvardt. (2010), Business law, the ethical, global, and E-Commerce Environment, Mc Graw Hill
  6. Từ Internet
  7. Cất cánh khu vực dịch vụ, 4 điểm yếu của dịch vụ Việt Nam, http://www.thuongmaidichvu.vn/Details/cat-canh-khu-vuc-dich-vu/4-diem-yeu-cua-dich-vu-viet-nam/46/0/8012.star, truy cập ngày 20/12/2011
  8. Sam Grover, eHow Contributor, Standard Service Contract Vs. Commercial Lease, http://www.ehow.com/facts_7181941_standard-contract-vs_-commercial-lease.html, truy cập ngày 20/12/2011
  9. Service agreements and contracts templates,http://www.businessballs.com/service_agreements_contracts_templates.htm, truy cập ngày 22/12/2011
  10. Điều 2 Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999

    Đinh Thị Mai Phương (2005), Thống nhất Luật hợp đồng ở Việt Nam, NXB Tư Pháp, tr. 67.

    Trong bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, cũng không đưa ra định nghĩa rõ ràng về hợp đồng thương mại, nhưng khái niệm hợp đồng thương mại phải được hiểu theo một nghĩa rộng nhất, không chỉ bao gồm các giao dịch thương mại nhằm cung cấp hay trao đổi hàng hóa hay dịch vụ, mà còn bao gồm các hình thức giao dịch kinh tế khác như các hợp đồng về đầu tư và/hoặc ủy thác, các hợp đồng cung cấp các dịch vụ chuyên môn

    Điều 3.1 Luật Thương mại năm 2005

    United Nations and the World Bank (1994), Handbook on “liberalizing international Transactions in Services”, tr.1.

    Điều này đã được giải thích dựa trên đặc điểm của dịch vụ là tính vô hình, không lưu trữ được và được tiêu thụ ngay khi nó vừa được tạo ra.

    Điều 79 Luật Thương mại năm 2005

    Điều 80 Luật Thương mại năm 2005

    Hợp đồng thương mại dịch vụ và vai trò của nó đối với doanh nghiệp

Danh sách các ngành, nghề cấm lao động nước ngoài làm việc tại Thái Lan

Danh sách các ngành nghề cấm lao động nước ngoài làm việc tại Thái Lan – 39 ngành nghề cấm lao động nước ngoài làm việc tại Thái Lan – sắc lệnh Hoàng gia năm 1979

campuchia1_orrh
[Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan] Vừa qua Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan đã đưa ra thông tin về các ngành nghề Thái Lan cấm lao động nước ngoài làm việc. Sau đây chúng tôi xin đăng tải lại toàn bộ danh sách 39 ngành, nghề cấm lao động nước ngoài làm việc tại Thái Lan.

Theo sắc lệnh hoàng gia năm 1979, quy định Danh sách các ngành nghề cấm lao động nước ngoài làm việc bao gồm:
1. Lao động phổ thông;
2. Nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, trừ các công việc đòi hỏi chuyên môn, đặc thù hoặc giám sát nông trại;
3. Thợ nề, thợ mộc hoặc các công việc khác trong ngành xây dựng;
4. Khắc gỗ;
5. Lái ô tô, tàu lượn có hoặc không có động cơ, trừ lái máy bay dân dụng quốc tế;
6. Bán hàng;
7. Bán đấu giá;
8. Giám sát, kiểm toán hoặc cung cấp dịch vụ kế toán, trừ kiểm toán nội bộ bất thường;
9. Cắt hoặc đánh bóng kim cương, đá quý;
10. Cắt tóc, làm tóc hoặc chăm sóc sắc đẹp;
11. Dệt vải bằng tay;
12. Dệt vải hay làm đồ dùng từ lau sậy, mây, cây gai dầu, rơm hoặc tre;
13. Làm giấy dâu tằm bằng tay;
14. Làm đồ sơn mài;
15. Sản xuất nhạc cụ truyền thống Thái Lan;
16. Làm đồ khảm men;
17. Làm đồ trang sức vàng, vàng hồng hay bạc;
18. Đúc đồng;
19. Sản xuất búp bê Thái;
20. Sản xuất đệm và ruột chăn;
21. Sản xuất bát khất thực cho sư;
22. Sản xuất các sản phẩm lụa tơ tằm bằng tay;
23. Sản xuất tranh ảnh Phật;
24. Sản xuất dao;
25. Sản xuất ô giấy hoặc ô vải;
26. Sản xuất giầy;
27. Sản xuất mũ;
28. Môi giới hay đại lý, trừ môi giới hoặc đại lý thương mại quốc tế;
29. Nhận các công trình dân sự liên quan đến thiết kế và tính toán, tổ chức, nghiên cứu, lập dự án, kiểm tra, giám sát xây dựng, tư vấn, trừ các công trình đòi hỏi chuyên môn đặc biệt;
30. Làm công việc kiến trúc liên quan đến thiết kế, bản vẽ, dự toán chi phí, chỉ đạo hay tư vấn xây dựng;
31. Thợ may;
32. Sản xuất đồ gốm, sứ;
33. Sản xuất thuốc lá cuốn bằng tay;
34. Hướng dẫn viên du lịch hoặc kinh doanh dịch vụ tham quan, du lịch;
35. Bán hàng rong;
36. Sắp chữ tiếng Thái;
37. Dệt lụa thủ công;
38. Văn thư, thư ký;
39. Dịch vụ pháp lý hoặc tố tụng.
Ghi chú: Theo các nghị quyết của Chính phủ Thái Lan, người lao động nước ngoài từ Myanmar, Lào và Campuchia được phép làm hai nghề:

(1) Lao động phổ thông

(2) Giúp việc gia đình

 

Luật quốc tịch Thái Lan

“Người nước ngoài” có nghĩa là một người không có quốc tịch Thái Lan; “Cán bộ có thẩm quyền” nghĩa là người được Thủ tướng chỉ định để thực thi Bộ luật này; “Bộ trưởng” nghĩa là Bộ trưởng chịu trách nhiệm quản lý và điều hành việc thực thi Bộ luật này.

Passport Thailand

Điều 1. Luật này được gọi là “Luật quốc tịch B.E. 2508”.

Điều 2. Luật này có hiệu lực chính thức từ ngày đăng Công báo Chính phủ.

Điều 3. Những Luật sau đây sẽ được bãi bỏ:

(1) Luật quốc tịch B.E. 2495;

(2) Luật quốc tịch (số 2), B.E. 2496;

(3) Luật quốc tịch (số 3), B.E. 2499;

(4) Luật quốc tịch (số 4), B.E. 2503).

Điều 4. Trong Luật này:
“Người nước ngoài” có nghĩa là một người không có quốc tịch Thái Lan;
“Cán bộ có thẩm quyền” nghĩa là người được Thủ tướng chỉ định để thực thi Bộ luật này;
“Bộ trưởng” nghĩa là Bộ trưởng chịu trách nhiệm quản lý và điều hành việc thực thi Bộ luật này.

Điều 5. Việc được công nhận quốc tịch Thái Lan theo Điều 9 hoặc 12, tước quốc tịch Thái Lan quy định tại Chương II, hay việc trở lại quốc tịch Thái Lan quy định tại Chương III, có hiệu lực bắt đầu từ thời điểm đăng công báo và có hiệu lực riêng.

Điều 6. Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm quản lý và điều hành việc thực hiện Luật này và có quyền chỉ định những cán bộ có thẩm quyền và ban hành những qui định cấp Bộ qui định các mức phí không vượt quá hạn mức theo Phụ lục của Luật này, và miễn phí cho bất kỳ ai đáp ứng đủ yêu cầu trong những trường hợp sau:

(1) Đăng ký nhập quốc tịch Thái Lan;

(2) Chứng nhận quốc tịch Thái Lan;

(3) Đăng ký trở lại quốc tịch Thái Lan.

Những qui định của Bộ trưởng sẽ có hiệu lực từ thời điểm đăng Công báo.

***

CHƯƠNG I

CÓ QUỐC TỊCH THÁI LAN

Điều 7. Những người sau đây được công nhận có quốc tịch Thái Lan do sinh ra:

(1) Trẻ em được sinh ra có cha hoặc mẹ mang quốc tịch Thái Lan, không kể được sinh ra ở trong hay ngoài lãnh thổ Thái Lan;

(2) Trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Thái Lan trừ những người được qui định tại Điều 7 bis, đoạn 1.

Điều 7. bis. Trẻ em được cha mẹ là người nước ngoài sinh ra tại Thái Lan không được công nhận là công dân Thái Lan nếu tại thời điểm sinh, người cha theo pháp luật hoặc cha đẻ mà chưa kết hôn với người mẹ, hoặc mẹ đẻ là:

(1) Người được cho phép sinh sống tạm thời tại Thái Lan như một trường hợp đặc biệt;

(2) Người được phép tạm trú ở Vương quốc Thái Lan;

(3) Người mới vào sinh sống tại Thái Lan mà không được phép theo Luật nhập cư.
Trong trường hợp Bộ trưởng xét thấy hợp lý, ông có thể xem xét và đồng ý cấp quốc tịch Thái Lan cho bất kỳ ai qui định tại đoạn 1 phù hợp với các qui định đã được Chính phủ đưa ra.

Một người được sinh ra tại Thái Lan và không có quốc tịch Thái Lan theo đoạn một được coi là đã vào sinh sống mà không được sự cho phép theo luật nhập cư trừ khi đã được cho phép theo luật về vấn đề cụ thể này.

Điều 8. Trẻ em do cha mẹ người nước ngoài sinh ra tại Thái Lan không có quốc tịch Thái Lan nếu tại thời điểm sinh, cha hoặc mẹ là:

(1) Trưởng một cơ quan ngoại giao hoặc một thành viên của tổ chức này;

(2) Trưởng một cơ quan lãnh sự quán hoặc thành viên của tổ chức này;

(3) Nhân viên hoặc chuyên gia của một tổ chức quốc tế;

(4) Thành viên của một gia đình, cho dù là thành viên bảo trợ hoặc được bảo trợ, đến từ nước ngoài để sinh sống với người quy định tại mục (1), (2) hoặc (3).

Điều 9. Phụ nữ là người nước ngoài kết hôn với một người có quốc tịch Thái Lan nếu muốn mang quốc tịch Thái Lan có thể đệ trình đơn xin nhập quốc tịch lên cán bộ có thẩm quyền theo mẫu và hướng dẫn được qui định trong “Những qui định của Bộ trưởng”.

Việc đồng ý hoặc từ chối cho phép nhập quốc tịch Thái Lan hoàn toàn phụ thuộc vào sự xem xét của Bộ trưởng.

Điều 10. Người nước ngoài đáp ứng những điều kiện sau đây có thể làm đơn xin nhập quốc tịch Thái Lan:

(1) Trở thành một thành viên tự lập (sui juris) theo qui định pháp luật Thái Lan và luật mà nhờ đó người đó có thể có quốc tịch;

(2) Có tư cách, đạo đức tốt;

(3) Có nghề nghiệp ổn định;

(4) Sinh sống ở tại Thái Lan từ 5 năm liên tục trở lên cho đến ngày nộp đơn xin nhập quốc tịch;

(5) Có khả năng sử dụng tiếng Thái Lan như qui định trong “Những quy định chung”.

Điều 11. Những khoản (4) và (5) trong Điều 10 sẽ được áp dụng nếu người đăng ký nhập quốc tịch Thái Lan;

(1) Đã hoàn thành nghĩa vụ đối với Thái Lan hoặc đã thực hiện các nhiệm vụ vì lợi ích của Nhà nước do Bộ trưởng xét thấy đã hoàn thành;

(2) Là con hoặc vợ của một người có quốc tịch Thái Lan hoặc đã được trở lại quốc tịch Thái Lan; hoặc

(3) Là người đã từng có quốc tịch Thái Lan.

Điều 12. Bất kỳ cá nhân nào mong muốn có quốc tịch Thái Lan có thể nộp đơn xin nhập quốc tịch cho cán bộ có thẩm quyền theo mẫu và hình thức được qui định tại “Những qui định của Bộ trưởng”.

Nếu người đăng ký nhập quốc tịch Thái Lan theo đoạn 1 có con chưa trưởng thành theo pháp luật Thái Lan và có chỗ ở tại Thái Lan thì đồng thời có thể xin nhập quốc tịch cho con. Trong trường hợp này, trẻ em được miễn việc đáp ứng các phẩm chất theo Điều 10 (1), (3), (4) và (5).

Việc chấp thuận hay từ chối nhập quốc tịch Thái Lan phụ thuộc vào sự xem xét của Bộ trưởng. Trong trường hợp đồng ý nhập quốc tịch, Bộ trưởng sẽ đệ trình vấn đề này để Quốc vương phê chuẩn. Sau khi được phê chuẩn, người đăng ký nhập quốc tịch phải khẳng định lòng trung thành với Vương quốc Thái Lan.

Một người đã được nhập quốc tịch Thái Lan có quyền xin giấy chứng nhận mang quốc tịch Thái Lan.

***

CHƯƠNG II

TƯỚC QUỐC TỊCH THÁI LAN

Điều 13. Phụ nữ mang quốc tịch Thái Lan kết hôn với người nước ngoài và có nguyện vọng mang quốc tịch của chồng có thể nộp đơn xin thôi mang quốc tịch Thái Lan (nếu muốn) cho cán bộ có thẩm quyền theo mẫu và hình thức đã qui định trong “Những qui định của Bộ trưởng”.

Điều 14. Người có quốc tịch Thái Lan có cha là người nước ngoài và đã có quốc tịch của cha theo luật pháp về quốc tịch của cha, hoặc người có quốc tịch Thái Lan theo Điều 12, đoạn 2, nếu muốn có thể giữ lại quốc tịch kia của họ bằng cách làm đơn xin thôi quốc tịch Thái Lan trong vòng 1 năm sau khi bước sang tuổi 20 theo mẫu và hình thức qui định trong “Những qui định của Bộ trưởng”.

Nếu sau khi xem xét đơn như đã nói trên, Bộ trưởng xét thấy có lý do chính đáng để người đó nhập quốc tịch của cha hoặc một quốc tịch nước ngoài, Bộ trưởng sẽ phê duyệt việc xin thôi quốc tịch. Trong trường hợp ở những nước mà Thái Lan đang có tranh chấp quân sự hay chiến tranh, Bộ trưởng có thể đề nghị trì hoãn việc thôi quốc tịch Thái Lan.

Điều 15. Trừ trường hợp như trong Điều 14, mọi cá nhân có quốc tịch Thái Lan và các quốc tịch khác, hoặc người được nhập quốc tịch Thái Lan, nếu muốn, có thể xin thôi quốc tịch Thái Lan bằng cách nộp đơn lên cán bộ có thẩm quyền theo mẫu và hình thức qui định trong “Những qui định của Bộ trưởng”.

Việc phê duyệt hay phản đối việc xin thôi quốc tịch Thái Lan phụ thuộc hoàn toàn vào sự suy xét của Bộ trưởng.

Điều 16. Đối với phụ nữ nước ngoài lấy chồng mang quốc tịch Thái Lan đã được nhập quốc tịch khi kết hôn sẽ bị tước quốc tịch Thái Lan nếu:

(1) Hôn nhân bị ảnh hưởng bởi việc che giấu sự thật hoặc gây ra bất kỳ một phát biểu nào sai trái với trong các vấn đề cụ thể;

(2) Gây ra bất kỳ một hành động nào không có lợi đến an ninh, hoặc mâu thuẫn với lợi ích của Nhà nước, hoặc xúc phạm danh dự đất nước Thái Lan;

(3) Gây ra bất kỳ một hành động nào trái với qui tắc cư xử công cộng và đạo đức.

Điều 17. Đối với người có quốc tịch Thái Lan do được sinh ra tại Thái Lan có cha là người nước ngoài sẽ bị tước quốc tịch Thái Lan nếu:

(1) Người đó đã sinh sống tại nước ngoài nơi cha có hoặc đã từng có quốc tịch trong vòng 5 năm liên tục tính từ ngày người đó trưởng thành;

(2) Có bằng chứng chứng tỏ rằng người đó sử dụng quốc tịch cha hoặc quốc tịch nước ngoài, hoặc có mong muốn tích cực được sử dụng quốc tịch của cha hoặc quốc tịch nước ngoài;

(3) Gây ra bất kỳ một hành động nào không có lợi đến an ninh, hoặc mâu thuẫn với lợi ích của Nhà nước, hoặc xúc phạm danh dự đất nước Thái Lan;

(4) Gây ra bất kỳ một hành động nào trái với qui tắc cư xử công cộng và đạo đức.
Dựa trên yêu cầu của Uỷ viên công tố, Bộ trưởng sẽ yêu cầu tước quốc tịch Thái Lan đối với người thuộc quy định tại khoản (1) và (2) Điều này và Toà án sẽ yêu cầu tước quốc tịch Thái Lan đối với người thuộc quy định tại khoản (3) và (4) Điều này.

Điều 18. Trong trường hợp cần thiết phải giữ gìn an ninh và lợi ích của quốc gia, Bộ trưởng được quyền tước quốc tịch Thái Lan của người có quốc tịch Thái Lan theo Điều 7 Bis. đoạn 2.

Điều 19. Bộ trưởng có quyền tước quốc tịch Thái Lan của những người xin nhập quốc tịch Thái Lan nếu:

(1) Việc nhập quốc tịch là do động cơ có che giấu hoặc khai báo sai trong một phần cụ thể nào đó;

(2) Có bằng chứng về việc người đó vẫn sử dụng quốc tịch trước kia của mình;

(3) Người đó gây ra bất kỳ hành động nào gây tổn hại đến an ninh hoặc mâu thuẫn với lợi ích của Nhà nước hoặc xúc phạm danh dự đất nước Thái Lan;

(4) Người đó gây ra các hành động trái với qui tắc cư xử công cộng và đạo đức;

(5) Người đó đã sinh sống ở nước ngoài mà không có chỗ ở tại Thái Lan trong vòng 5 năm trở lên;

(6) Người đó vẫn giữ quốc tịch của đất nước đang có chiến tranh với Thái Lan.

Việc tước quốc tịch Thái Lan theo đoạn này có thể mở rộng ra đối với trẻ em là con của người bị tước quốc tịch Thái Lan trong trường hợp những trẻ em này chưa đến tuổi thành niên và có quốc tịch Thái Lan theo Điều 12, đoạn 2. Bộ trưởng sau khi yêu cầu tước quốc tịch Thái Lan phải đệ trình vấn đề này lên Quốc vương.

Điều 20. Một Uỷ ban sẽ được thiết lập bao gồm Thứ trưởng Bộ Nội vụ làm Chủ tịch, một đại diện Bộ Ngoại giao, đại diện của cơ quan Hành chính, đại diện của cơ quan cảnh sát và một đại diện của cơ quan Dân sự làm thành viên có trách nhiệm xem xét việc tước quốc tịch Thái Lan theo Điều 16, 17(1) và 18, 19.

Đối với các trường hợp liên quan đến bất kỳ ai có thể bị tước quốc tịch Thái Lan, cán bộ có thẩm quyền đệ trình đơn xem xét lên Hội đồng. Sau khi xem xét, Hội đồng đề xuất ý kiến về cách giải quyết cho Bộ trưởng.

Điều 21. Người mang quốc tịch Thái Lan có cha là người nước ngoài và có quốc tịch nước ngoài theo cha sẽ mất quốc tịch Thái Lan nếu người đó có thẻ chứng minh của người nước ngoài theo Luật đăng ký đối với người nước ngoài.

Điều 22. Công dân Thái Lan đã nhập quốc tịch nước ngoài, hoặc người đã thôi quốc tịch Thái Lan, hoặc đã bị tước quốc tịch Thái Lan sẽ mất quốc tịch Thái Lan.

 

***

CHƯƠNG III

TRỞ LẠI QUỐC TỊCH THÁI LAN

Điều 23. Phụ nữ có quốc tịch Thái Lan nhưng đã thôi quốc tịch Thái Lan khi kết hôn với một người nước ngoài như qui định tại Điều 13 có thể nộp đơn xin trở lại quốc tịch Thái Lan nếu cuộc hôn nhân đổ vỡ vì bất cứ lý do gì.
Khi nộp đơn xin nhập lại quốc tịch Thái Lan, cần viết đơn trình bày nguyện vọng cho cán bộ có thẩm quyền theo mẫu và hình thức qui định tại “Những qui định của Bộ trưởng”.

Điều 24. Trẻ em vị thành niên có quốc tịch Thái Lan sinh sống cùng với cha mẹ nếu muốn trở lại quốc tịch Thái Lan thì nộp đơn lên cán bộ có thẩm quyền theo mẫu và hình thức qui định trong “Những qui định của Bộ trưởng” trong vòng 2 năm kể từ ngày người đó trưởng thành theo pháp luật Thái Lan và pháp luật mà nhờ đó người đó có quốc tịch.
Việc chấp thuận hay từ chối xin trở lại quốc tịch Thái Lan hoàn toàn phụ thuộc vào sự xem xét của Bộ trưởng.

Mức phí
(1) Đơn xin nhập quốc tịch Thái Lan mỗi lần 5,000 baht

(2) Đơn xin nhập quốc tịch Thái Lan mỗi lần 2,500 baht dành cho con của người nộp đơn khi chưa thành niên

(3) Chứng nhận quốc tịch Thái Lan mỗi bản 500 baht

(4) Thay giấy chứng nhận quốc tịch Thái Lan mỗi bản 500 baht

(5) Đơn xin trở lại quốc tịch Thái Lan mỗi lần 1,000 baht

(6) Các loại đơn khác mỗi bản 5 baht.

Theo Luật Mình Khuê